TramAnh

Năm 1558, để tránh sự dòm ngó nghi kỵ của anh rễ, Nguyễn Hoàng (tức chúa Tiên, chúa đầu tiên trong 9 đời chúa 13 đời vua triều Nguyễn) đã nhờ chị ruột Ngọc Bảo xin với chồng là Trịnh Kiểm cho mình vào đất Thuận Hoá để trấn giữ. Trịnh Kiểm lúc này đang quyền nghi triều dã, tuy mang tiếng phò trợ vua nhà hậu Lê nhưng luôn ở trong thế lấn áp, tự chủ, lại có lúc muốn lên lật đổ vua Lê để tự làm vua vì Trịnh Kiểm nắm hết binh quyền trong tay.

Tương truyền rằng nhờ vào câu sấm ký của Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm "Giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản", nên Trịnh Kiểm mới bỏ đi cái tham vọng đó. Khi đã xin được Trịnh Kiểm cho vào Thuận Hoá (nay thuộc hai tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên), Nguyễn Hoàng cũng không ngờ được từ mảnh đất ấy trở vào trong Nam sau này đều do con cháu của mình làm bá chủ. Đến đời cháu thứ 7 của Nguyễn Hoàng là vua Gia Long thì nguyên cả bản đồ của nước Việt từ Bắc chí Nam đã vào tay nhà họ Nguyễn.

Nguyễn Hoàng để lại 5 người con trai ở ngoài Bắc khi vào Thuận Hoá, con cháu của những người này sau được vua Gia Long ban tên "Nguyễn Hựu", để phân biệt với con cháu của 5 người con còn lại theo chân Nguyễn Hoàng vào Nam (hoặc sinh sau) được đặt tên là "Nguyễn Phúc". Chị gái của Nguyễn Hoàng (tức vợ của Trịnh Kiểm) có tên gọi là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, các con gái và cháu gái của Nguyễn Hoàng đều có tên đệm "Phúc Ngọc", nhưng bỏ đi chữ "Thị".

Đến đời cháu thứ 8 là Minh Mạng sau này mới có dụ chỉ không cho con gái vua (công chúa) mang tên đệm là "Ngọc" nữa (trừ con gái cả là Trưởng công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tông đã đặt tên trước khi có dụ cấm). Sau đây là đoạn chép về nguồn gốc tên gọi của đế vương nhà Nguyễn, được lược trích từ bộ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, do Nội các triều Nguyễn biên chép.

"Phàm những người trong Tôn phả mà có tên đồng âm với quốc huý (tên cấm kỵ), và người phụ nữ trong Tôn thất có tên trùng với tên hoàng tử, hoàng tôn, hoàng thân, hoàng nữ, hoàng muội, và các người trong Tôn thất, trùng tên với nhau, đều phải chọn chữ đổi lại. Đến như vợ lẽ các phủ và vợ cùng con gái là người Tôn thất, nếu đồng âm với quốc húy cũng như con gái họ Tôn thất cung hoàng tử, hoàng tôn, hoàng nữ, hoàng muội mà tên trùng nhau thì cũng đều tiến hành trình lên phủ để đổi lại và ghi vào Tôn phả.

Còn như những tên người họ Tôn thất tuy đồng âm với con gái vua, cháu vua và hoàng thân nhưng mà khác chữ cũng như có ai trùng tên với công tử như Tôn Thất Cơ cùng công tử Tĩnh Cơ là hai loại tên đơn và tên kép đều có khác nhau thì không cần thay đổi. Lại phàm tên các con gái trong Tôn thất đều bỏ bớt chữ "Ngọc" (玉) vẫn viết chữ "Thị" (氏) thôi, tên những con gái hoàng thân cũng đều theo thế mà viết, không nên đệm bằng chữ "Ngọc" nữa.

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), vua làm bài tựa nói rằng: Nhà nước ta nguyên trước gây dựng ở Ngoại trang xã Gia Miêu, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung xứ Thanh Hóa, họ là Nguyễn, đời trước đã là một họ to đời đời trâm anh, đâu phải chỉ hơn vài trăm năm nay, tu nhân tích đức để có ngày nay, thực sánh với nhà Chu vậy.

Bởi thế hoàng thiên mến yêu sinh ra đất Triệu tổ Tĩnh Hoàng đế ta (Nguyễn Kim) gây dựng nghiệp lớn, tiếp theo sinh ra đức Thái tổ Gia Dũ Hoàng đế ta (tức chúa Tiên-Nguyễn Hoàng) gây dựng cơ nghiệp ở miền Nam bèn lấy chữ Phúc tiếp theo chữ Nguyễn. Gọi quốc tính là Nguyễn Phúc. Các thánh (các chúa và vua nhà Nguyễn) nối theo nhau đều nối theo bậc thánh.

Đến đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta (tức Gia Long-Nguyễn Phúc Ánh) dẹp yên loạn lạc khắp cả nước Việt, sai làm Ngọc phả, lấy con cháu đức Thái tổ (Nguyễn Hoàng) vào Nam cùng hệ các thánh làm họ Tôn thất Nguyễn Phúc. Còn những con cháu đức Thái tổ ở ngoài Bắc cùng các phái thì gọi là Công tính Nguyễn Hựu. Đến như miếu hiệu các thánh thì phần nhiều là theo bộ "Thủy" (水).

Về tên đức Thế tôn Hiếu Vũ Hoàng đế (chúa Nguyễn Phúc Khoát) và tên người Tôn thất thì cũng có khi dùng bộ "Nhật"; truyền đến đức Hoàng khảo (Gia Long) ta thì chuyên dùng bộ "Nhật" (日). Gần trăm năm nay dòng họ Tôn thất thêm nhiều, đưa đến chỗ tên trùng nhiều. Hoàng khảo ta khi ở ngôi có ý muốn thay đổi và ổn định tên chữ, truyền cho con cháu dùng mà đặt tên sau này, tiếc rằng việc làm chưa xong.

Cho nên (ta, Minh Mạng) muốn nối đức sáng trước, để thực hiện chí cha ông, thân chọn lấy 20 chữ thuộc bộ "Nhật" (là bài thơ "Đế hệ thi" mà ĐXGK đã chép trước đây) để cho về sau nối theo, cứ đến ngày lên nối ngôi mới nên lấy một chữ làm tên, ấy là lấy cái nghĩa chữ "Nhật" là tượng trưng cho cái nghĩa làm vua, mà lấy cái tên đặt cho lúc còn bé làm tên tự.

Còn về những con cháu cùng con cháu các anh em (của Minh Mạng) thì sẽ soạn mỹ tự khác chia làm hệ nhà vua, cùng các hệ của anh ta như Anh Duệ thái tử (tức Đông cung Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh, mất năm 21 tuổi), em ta là Kiến An, Định Viễn, Diên Khánh, Điện Bàn, Thiệu Hoá, Quảng Uy, Thường Tín, An Khánh và Từ Sơn, tất cả là 10 hệ (đây là bài thơ đặt tên cho con cháu những người anh và em của Minh Mạng gọi là "Phiên hệ thi").

Hôm mới ra xin đặt tên, thì tên hoàng tử, chữ trên lấy một chữ nào đó trong bài thơ đế hệ (Đế hệ thi), chữ dưới lấy bộ chữ nào đó của đời thứ mấy. Tên các công tử (cháu trai của vua) thì chữ trên lấy một chữ nào đó của thứ bậc trong bài thơ về công hệ (Phiên hệ thi), chữ dưới với ý nghĩa ngũ hành tương sinh, thì lấy bộ "Thổ" (土) làm sự bắt đầu.

Như thế thì thứ thế rõ ràng mà không rối, họ gần họ xa phân biệt mà tỏ tường, cái đạo luân thường hồn hậu, dòng họ hoà mục do đó mà dấy lên, cái dòng ngọc điệp thiên hoàng do đó mà rõ rệt. Con cháu ta nên tuân giữ phép tắc, để cho gốc ngọn trăm đời, lưu truyền mãi mãi theo đấy làm mong đáp ơn trời tổ thương yêu là được. Vậy nay làm bài tựa này.

Lại xuống Dụ rằng: Nay thế hệ nhà vua đã định rõ rồi, nên cho tên đẹp. Sau đó hễ sinh được hoàng tử đến đủ 100 ngày thì làm lễ bế vào (cung) ra mắt, xong thì chiếu theo đế hệ đặt tên ngay, hễ đã đặt tên mới thì tên cũ bỏ đi không dùng nữa. Năm thứ 10 (1829) xuống dụ: con của hoàng tử cũng gọi là công tử, thực chưa hợp lý, vậy từ nay về sau phàm con các hoàng tử đều gọi là "hoàng tằng tôn"; các (cháu) chắt hoàng tử đều gọi là "hoàng huyền tôn"; về gái cũng theo lệ ấy; không được gọi bừa. Nếu ai phạm vào điều đó thì lấy luật trị tội để cho có sự phân biệt."

Đắc Xuyên Gia Khang