su
Tựa đề của bài sử hôm nay đặt câu hỏi "Triệu Đà! Ông là ai?". Ông là người Tàu nhưng sao lại đi lạc vào sử sách của Việt Nam và được liệt vào các vua của nước Việt? Sử thần đời nhà Trần là Lê Văn Hưu hoặc các sử thần nhà hậu Lê như Phan Phù Tiên, Ngô Sĩ Liên đã liệt nhà Triệu của Triệu Đà thành một triều đại chính thống của Đại Việt, tiếp nối các triều đại thời huyền sử: nhà Hồng Bàng (Kinh Dương Vương), nhà Thục (An Dương Vương).

Theo truyền thuyết thì Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc của An Dương Vương sau khi sai con trai Trọng Thủy sang cầu hôn với Mỵ Châu và lấy trộm nỏ thần để dùng làm binh khí. Bộ quốc sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng chép truyền thuyết này tại kỷ (chương) chép về nhà Triệu với tất cả 5 đời vua bắt đầu với Vũ đế Triệu Đà và kết thúc với Triệu Kiến Đức (Thuật Dương vương), tổng cộng là 97 năm.

Triệu Đà sau khi đánh thắng An Dương Vương thì sát nhập đất Giao Chỉ với các quận bên Tàu là quận Tượng, Quế Lâm, Tây Âu, Nam Hải (thuộc hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay) để lập nên nước Nam Việt và cho đóng đô tại thành Phiên Ngung (nay là thành Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông). Ông làm vua trong hơn 70 năm và sống thọ ngoài 120 tuổi.

Theo quan điểm sử học ngày trước thì nhà Triệu của Triệu Đà là một triều đại "hợp pháp" và chính thống vì độc lập và không lệ thuộc vào nhà Hán bên Tàu. Ngay cả sử gia cận đại Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược cũng chép nhà Triệu thành một triều đại chính thống. Trong câu kết của đoạn chép về Triệu Đà thì Trần Trọng Kim đã viết như sau: "Sử chép rằng ngài thọ được 121 tuổi và làm vua được hơn 70 năm."

Sử thần Ngô Thì Sĩ cuối đời hậu Lê có lẽ là người đầu tiên bác bỏ quan điểm chính thống của nhà Triệu, trong sách Đại Việt Sử Ký Tiền Biên thì ông đã liệt nhà Triệu vào chương "Kỷ ngoại thuộc Triệu", tức là quốc gia bị lệ thuộc vào nhà Triệu của phương Bắc (bên Tàu). Ngô Thì Sĩ đã bàn luận rất minh bạch và sâu sắc về quan điểm của mình như sau. Mời các bạn cùng đọc (hơi dài nhưng Đắc Xuyên Gia Khang đã cô đọng những điểm chính để chỉ còn 3 trang smile emoticon

"Sử thần Ngô Thì Sĩ bàn: Từ khi An Dương Vương mất, nền quốc thống bị gián đoạn, người làm sử thấy việc Triệu Đà thôn tính được Giao Chỉ làm vua Nam Việt, xưng hiệu đế bèn ghi kỷ (chương) tiếp theo, chép chữ to chữ đặc biệt tựa hồ muốn khoe sự hưng thịnh bắt đầu dựng nghiệp đế của nước ta. Người đời sau noi theo, không ai biết cái sai đó.

Xét ra nước Việt của Nam Hải, Quế Lâm không phải nước Việt của Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà nổi lên ở Long Xuyên (một huyện bên Tàu), đóng đô ở Phiên Ngung (tên huyện ở Tàu, nay là Quảng Châu), chỉ muốn mở rộng bờ cõi bèn thôn tính nước ta làm quận phụ thuộc, đặt chức chủ trì việc giám sát để ràng buộc mà thôi. Thực ra là chưa từng làm vua ở nước ta.

Nước ta gọi là nước văn hiến, sử của một nước chẳng nhẽ lại lấy sử của một nước khác chép làm của mình? Tôi bèn mạnh dạn cải chính, bỏ kỷ Triệu Đà. Bởi vì lấy quốc thống quy về Triệu Đà là không đúng phép làm sử. (Triệu) Đà đối địch với Hán mà Giao Châu (đất phía Bắc của Việt Nam) lúc ấy chưa thông với Trung Quốc. Cho nên tôi đặt ra lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc.

Giáp Ngọ (207 tr. CN) (Tần Nhị Thế năm thứ 3) Triệu Đà tự lập làm Nam Việt Vương. Đà người huyện Chân Định. Trước đấy viên úy Nam Hải nhà Tần là Nhâm Hiêu lâm bệnh sắp chết bảo Đà rằng: "Nhà Tần vô đạo, thiên hạ khổ vì Tần. Nghe tin bọn Trần Thắng nổi loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này hẻo lánh xa xôi, ta e rằng bọn giặc cướp xâm lấn nên muốn dấy binh cắt đường sạn đạo (đường đi dùng thân cây ghép được treo ở những nơi núi non hiểm trở) để tự phòng thủ đợi sự biến động của chư hầu."

Nhân đấy Đà dần dần tìm cách giết bọn trưởng lại của nhà Tần, lấy người thân thuộc bè đảng của mình làm chức giả thú (Thái thú tạm thời) thôn tính đất Quế Lâm, Tượng Quận, đánh diệt An Dương Vương rồi tự lập làm vua nước Nam Việt. Vũ Vương (Triệu Đà) sai hai viên thư lại trông coi hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân.

Ất Mùi (206 tr. CN) năm ấy nhà Tần mất. Kỷ Hợi (202 tr. CN) mùa xuân tháng Giêng, Hán vương Lưu Bang lên ngôi hoàng đế, tức Cao đế (thường gọi Hán Cao tổ). Năm ấy (nhà) Tây Sở mất.

Ất Tỵ (196 tr. CN) nhà Hán đã bình định thiên hạ, nghe tin (Triệu) Đà cũng xưng vương ở đất Việt bèn sai Lục Giả sang ban ấn cho Đà lập làm Nam Việt vương, trao phù tín thông sứ giả, bảo Đà hoà hợp ở Bách Việt chớ gây hại ở biên giới phía Nam. (Lục) Giả đến, Đà búi tóc ngồi xổm tiếp kiến Giả. Giả nói:

"Vương vốn là người Hán, họ hàng phần mộ đều ở Chân Định, nay lại trái tính bỏ đai mũ hòng trỗi dậy ở đất này, làm nước đối địch chống nhau với nhà Hán, chẳng đã lầm lẫn đó sao? Thiên tử nhà Hán nghe vương xưng vương ở đất này toan đưa quân xuống Nam, chỉ vì trăm họ khó nhọc vừa xong nên sai sứ trao ấn cho vương. Đáng nhẽ vương nên ra đón bái yết ngoài thành quay mặt về hướng Bắc mà nhận làm bề tôi, thế mà vương lại muốn cậy có nước Việt chưa yên mà khinh nhờn sứ giả của nhà thiên tử. Nhà Hán nếu nghe biết chuyện này phát binh đến đất Việt thì vương làm thế nào?".

Đà đứng dậy nói: "Tôi ở đây lâu ngày quên mất cả lễ nghĩa". Nhân đấy hỏi Giả rằng: "Tôi với Tiêu Hà, Tào Tham (cả hai từng giữ chức Thừa tướng đời Hán), Hàn Tín (công thần bậc nhất của nhà Hán) ai hơn?" Giả đáp: "Có lẽ vương hơn". Đà lại hỏi: "Tôi với hoàng đế, ai hơn?".

Giả đáp: "Hoàng đế nối nghiệp Ngũ đế Tam vương thống trị Trung Quốc, người Trung Quốc có tới hàng ức vạn, đất rộng muôn dặm, của lắm dân giàu, chính lệnh do một nhà mà ra. Từ khi có trời đất đến nay chưa có đời nào được thế. Nay dân chúng của vương chẳng qua được vài chục vạn ở lẫn vào giữa khoảng núi và biển, chỉ như một quận của nhà Hán, sao mà so với Hán được".

Đà cười nói: "Tôi ân hận không dấy lên ở Trung Quốc nên làm vua ở đây, sao vội cho tôi không bằng nhà Hán", rồi giữ Giả ở lại vài ba tháng. Đà còn nói: "Trong nước Việt không có ai đáng nói chuyện, nay tiên sinh đến đây hằng ngày tôi được nghe những điều chưa được nghe". Lại còn hẹn cho Giả châu báu trong túi đáng giá ngàn vàng. Đến lúc Giả về lại cho thêm ngàn vàng.

Bính Ngọ (195 tr. CN) mùa hạ tháng 4, vua Hán (Lưu Bang) băng, miếu hiệu là Thái Tổ, con là Doanh lên ngôi tức là Hiếu Huệ đế. Quý Sửu (188 tr. CN) mùa thu tháng 8, vua Hán (Hiếu Huệ) mất, mẹ là Lã Hậu tên là Trĩ (tức Lữ Hậu, vợ của Lưu Bang, hoàng hậu đầu tiên trong lịch sử của Tàu, khét tiếng tàn độc và chuyên chế) nắm quyền thiên tử đặt (tên) là Cao Hậu.

Mậu Ngọ (183 tr. CN) nhà Hán cấm nước Nam Việt mua bán đồ sắt ở cửa quan. Nam Việt vương (Triệu) Đà nghe tin ấy nói: "Khi Cao đế (Lưu Bang) lên ngôi, ta cùng trao đổi sứ thần và phẩm vật. Nay Cao Hậu (Lữ Hậu) nghe bề tôi gièm pha, phân biệt Hán với Việt, ngăn cách việc trao đổi đồ vật. Việc này ắt là mưu kế của Trường Sa vương muốn dựa uy thế của nhà Hán mưu lấy nước ta mà làm vua cả, để lập công cho mình đó thôi". (Triệu) Đà bèn tự xưng là Nam Việt Vũ đế, sai quân sang đánh những ấp biên giới của Trường Sa (tỉnh Hồ Nam), đánh bại vài huyện rồi trở về.

Canh Thân (181 tr. CN) nhà Hán sai Lâm Lư hầu là Chu Táo đánh Việt để báo thù việc (Triệu Đà) đánh Trường Sa. Gặp mùa nắng nóng ẩm thấp, bị nạn dịch lớn không thể vượt qua được Ngũ Lĩnh, bèn phải bãi binh. Nhân dịp ấy Đà lấy binh lực và của cải chiêu dụ dân Việt và Tây Âu Lạc lệ thuộc vào mình, đông tây hơn vạn dặm, ngồi xe mui vàng dùng cờ tả đạo xưng là Thiên tử ngang hàng với (vua) nhà Hán.

Tân Dậu (179 tr. CN) mùa thu tháng 7, Cao Hậu băng, các đại thần nhà Hán rước con thứ của Cao Đế là Đại vương (Lưu) Hằng lập làm vua tức Văn Đế. Giáp Thìn (137 tr. CN) Triệu Vũ đế Đà mất, cháu (nội) là Hồ lên ngôi, tức Văn Vương. Hồ là con (của) Trọng Thủy. Triều nhà Trần truy phong (Hồ) là Hoàng đế, sử cũ chép nay bỏ đi.

Sử thần Lê Văn Hưu bàn: Triệu Vũ đế (Triệu Đà) khai thác đất Việt ta tự xưng đế trong nước, chống chọi với nhà Hán, là người mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta. Công ấy có thể nói là lớn đấy. Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: Kinh Dịch nói: "Biết khiêm tốn thì ở ngôi cao, đức sẽ càng sáng, ở ngôi thấp cũng không ai dám vượt qua". Triệu Đà là hợp với câu ấy đấy.

Sử thần Ngô Thì Sĩ bàn: Triệu Đà cuối thời Tần chỉ là một quan lệnh mà thôi, nhân nhà Tần loạn, chiếm cứ đất Lưỡng Quảng (Quảng Tây và Quảng Đông) đang giành địa vị ở Trung Nguyên, chưa để mắt đến đất Lĩnh Nam. Sau khi việc nhà Hán đã ổn định, (Hán) Cao Tổ cũng thấy ghét binh đao chán công trạng. Văn Đế nối ngôi lại càng ngại dùng vũ lực. Đà nhân đấy buộc Mân Việt (tỉnh Phúc Kiến, ráp gianh phía bắc Quảng Đông), Tây Âu phải lệ thuộc vào mình, ngồi xe mui vàng tự xưng là Hoàng đế để tự đề cao mình cho khác biệt.

Song tự biết sức mình không thể địch nổi nhà Hán bèn nhân Văn Đế vỗ về, từ đấy dùng lời lẽ nhún nhường bỏ hiệu đế, tự xưng là bề tôi dâng lễ cống để làm vừa lòng nhà Hán. Đây lại càng thấy rõ chỗ quỷ quyệt của (Triệu) Đà. Nếu không phải là người hiểu thấu được cái lẽ nên cứng nên mềm, khi co khi giãn, thì không thể làm thế được.

Đà mở được nước rộng muôn dặm, truyền ngôi hàng trăm năm, thay tục búi tóc thành tục đội mũ đai, xếp bỏ can qua (giáo mác, binh đao, chiến tranh) mà dùng ngọc lụa bồng cháu làm vui, tuổi cao mà vẫn còn mạnh khỏe. Buổi đầu thời Hán, trong thì chư hầu, ngoài thì nhiều nước không ai sánh kịp sự lâu dài ấy. Người bình luận đời sau khen là bậc vua nổi tiếng, chẳng phải là anh hùng một thời đó sao?

Song các nhà làm sử như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên ví Đà như Cơ Tử, Thái Bá và lấy công mở nghiệp để mà quy cho Đà; thậm chí cho Đà là người có đức tứ ứng (địa vị, phúc lộc, danh tiếng, sống lâu) ngang với (vua) Thuấn, hết sức tán dương đức khiêm tốn của Đà thì là sai đấy. Sao lại nói thế? Vì rằng với Thuấn thì Đà vốn không thể sánh kịp rồi, còn như Cơ Tử đến Triều Tiên (Đại Hàn) đặt ra lệnh cấm, biến đổi phong tục cho dân, nền giáo hóa nhân đức hiền từ ấy đến nay vẫn còn.

Đà chiếm Ngũ Lĩnh, chỉ khổ vì lòng tham không biết thế nào cho đủ, lại tiêu diệt An Dương (Vương) mà thôn tính, truyền được vài đời thì mất. Bản đồ sổ sách thuộc nước cũ An Dương (Vương) phải nhập về nhà Hán. Do đó nước ta trở thành nguồn lợi cho Trung Quốc. Giả sừ Đà không gây nên mối binh đao thì cho dù Hán Vũ đế có tham mối mở đất, thích lập công, chẳng qua cũng chỉ diệt họ Triệu (Đà) để lấy lại quận huyện của nhà Tần xưa mà thôi, chứ không đến được Giao Chỉ.

Nước ta ngoại thuộc vào Triệu nên nội thuộc vào Hán cho mãi đến thời Đường, quốc thống bị đoạn tuyệt, suy nguồn gốc, người đầu tiên gây nên tai vạ không phải Đà thì còn ai? Hơn nữa Đà đặt nước ta làm quận huyện, chỉ biết tịch thu đất đai, vơ vét thuế má, chỉ cốt lấy đầy ngọc bích cho triều đình nhà Hán, chất túi (sứ thần) Lục Giả có đủ nghìn vàng. Còn như giáo hoá phong tục không mảy may để ý đến. Nghề cày cấy là cội gốc để nuôi dân, việc cưới xin là việc lớn của con người, thì bấy giờ dân ta vẫn tối tăm không biết gì hết. Trải qua hàng trăm năm đất nước chỉ là lệ thuộc.

Còn như suy rộng công của Đà cho là người mở đầu cơ nghiệp đế vương thì tôi đã bàn rồi. Lê Văn Hưu đặt phép chép sử đó, lập lối nghị luận đó, Ngô Sĩ Liên theo lối hiểu nông cạn đó mà không sửa đổi, cho đến bài Tổng luận của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm (cả hai là sử thần đời vua Lê Thánh Tông) cùng nhau ca tụng, cho Đà là bậc vua giỏi của nước mình, đến nay đã trải hàng nghìn năm không ai cải chính, bởi vậy tôi phải luận thật sâu."
Đắc Xuyên Gia Khang