chuaTrinhQuốc sử Việt Nam ngoài bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên & các sử thần nhà hậu Lê tục biên được ấn hành lâu đời nhất, còn có bộ Việt Nam Sử Lược của học giả uyên bác Lệ Thần-Trần Trọng Kim rất thông dụng trong giới học giả lẫn dân chúng. Việt Nam Sử Lược được viết bằng chữ quốc ngữ, chép theo triều đại, lại chia ra đề mục rất rõ ràng nên vẫn là bộ quốc sử dễ đọc và nắm bắt nhất.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục là bộ quốc sử do các sử quan nhà Nguyễn dưới sự giám sát của Phan Thanh Giản, đã vâng mệnh vua Tự Đức để biên soạn năm 1859. Tuy không đồ sộ bằng bộ Đại Nam Thực Lục (bộ sử chép riêng về thời gian trị vì
của các chúa và vua nhà Nguyễn), nhưng lại là bộ sử quan trọng thứ nhì trong các bộ quốc sử Việt Nam. Tiếc thay bộ sử này chỉ mới được phiên dịch sang chữ quốc ngữ vài chục năm nay nên không phổ biến mấy với công chúng đã quá quen thuộc với Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

Lối chép sử trong sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục gọi là "cương mục" 綱目. Cương tức là chép một sự việc làm đề tài hoặc cốt lõi ở trên và ở dưới "mục" thì chép chi tiết về việc đó. Cương mục cũng sắp xếp các biến cố, sự việc theo triều đại, biên niên (chia năm) như sách Toàn Thư nhưng khác ở chỗ có "Lời chua" của sử quan chú thích về các địa danh, nhân danh v.v... và "Lời phê" của vua Tự Đức liên quan đến những biến cố vừa nêu. Sách Toàn Thư thì chỉ có lời bàn của Lê Văn Hưu (sử thần nhà Trần), Phan Phù Tiên và Ngô Sĩ Liên (sử thần nhà hậu Lê).

Hôm nay Đắc Xuyên Gia Khang xin giới thiệu một bài lịch sử về quy chế trang phục của phủ chúa Trịnh rất hay chép theo lối "cương mục" được trích từ sách Khâm Định. Mời các bạn cùng đọc.

"Canh Tý, năm Bảo Thái (niên hiệu của vua Lê Dụ Tông) thứ nhất (1720). (Thanh, Khang Hy năm thứ 59). Tháng 5 bổ dụng: Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Công Cơ và Lê Anh Tuấn cùng giữ chức tham tụng (chức quan lớn nhất phủ chúa thời vua Lê chúa Trịnh, tương đương chức Tể tướng)

(Đoạn trên chép theo lối biên niên như sách Toàn Thư và đề việc cốt lõi "cương": bổ dụng các ông quan. Đoạn dưới đây chép chi tiết "mục")

Từ lúc trung hưng trở về sau, các công việc phần nhiều cẩu thả đơn giản, Công Hãng giữ chính quyền, bàn định muốn thay đổi hết thảy. Trịnh Cương càng đem lòng ủy thác tin dùng.

Một đêm, giọt nước đồng hồ mới bắt đầu trống canh năm, Cương sai nội giám triệu Công Hãng và Anh Tuấn vào trong phủ bàn định công việc. Lúc ấy hai người này còn chưa ngủ dậy, Cương ngồi để đợi. Khi bọn Công Hãng vào, Cương cười nói: "Vừa rồi ta cảnh giác trong giấc ngủ, từ đời xưa có bao giờ như thế không?"

Bọn Công Hãng tạ lỗi nói: "Chúa thương lo nghĩ siêng năng mọi việc, tài trí chúng tôi kém cõi tầm thường không có thể theo kịp được. Đến như việc giục giã răn bảo bầy tôi, cảnh giác trong lúc đêm khuya, thì việc này từ đời trước đến nay chưa bao giờ có". Cương bèn bảo hai người ngồi, cho uống nước trà, ung dung hỏi han mọi việc, ngày đã muộn hai người ra về.

Định nghi thức mặc áo

Trước đây quan lại, quân và dân, đồ mặc thường thông dụng thanh cát y, đội khăn chữ đinh. Đến nay tham tụng Nguyễn Công Hãng bàn thay đổi lại: Phàm ngày thường vào triều vua, vào hầu chúa và người chấp sự thừa hành lễ nghi, mặc áo đều có thể thức, không ai được dùng vượt quá cấp bậc.

Nhân đấy, Công Hãng cùng chưởng phủ Trịnh Quán, xin Cương khi tiếp bầy tôi nên mặc áo sắc vàng. Cương bảo bọn này: "Ta nối giữ cơ nghiệp chúa, giúp rập nhà vua. Về sự tôn kính nhà vua, ta luôn luôn để trong bụng. Sắc vàng là đồ mặc của thiên tử, ta đâu dám dùng. Nay phủ liêu từ quan tứ phẩm trở lên dùng áo sa hoặc đoạn, thì về phần ta nên dùng sắc tía để phân biệt mà thôi"

Lời phê (của Tự Đức): Gọi Trịnh Cương bằng "chúa thượng", xin Trịnh Cương mặc áo sắc vàng, thì Công Hãng là tên phạm tội đầu sỏ. Còn như Cương cũng theo thói cũ xưng là "sư phụ" mà còn nhún nhường không mặc áo sắc vàng. Cái cách giả trá khéo léo của Cương cũng giống hệt như Tào Tháo nhường trả ba huyện. Cương toan lừa dối ai?

Lời chua (của sử thần): Áo mặc: Lê Sử Tục Biên chua: Hoàng thân và vương thân, áo mặc: mùa xuân, mùa hạ mặc sa tàu; mùa thu, mùa đông mặc đoạn tàu, đều màu trầm hương. Khăn: mùa xuân, mùa hạ dùng mã vĩ; mùa thu, mùa đông mặc đoạn huyền.

Quan văn, quan võ từ nhất phẩm đến tam phẩm, mặc áo: mùa xuân, mùa hạ dùng sa tàu; mùa thu, mùa đông dùng đoạn tàu, đều màu huyền. Khăn: quan viên dùng khăn nhiều trao (trùng diệp), quan võ dùng khăn một trao (đơn diệp). Áo và khăn của quan tứ phẩm cũng như thế, duy dùng sa và đoạn nam.

Nội giám, khăn: dùng bình đính, sau đổi là lục lăng.

Các quan văn, võ và nội giám, phàm viên nào chấp sự thì khi hành lễ và khi làm việc đều dùng áo thanh cát, mũ sa đen. Vào hầu phủ chúa Trịnh cũng thế."
Đắc Xuyên Gia Khang