Thuyền tử đạo

thuyenTDMùa đông tháng 3 năm 1533, Y Nhã (Ignacio) vị thừa sai người Bồ Đào Nha theo chân thuyền buôn hàng hoá ngoại quốc đổ bộ vào cửa biển gần Trà Lũ, bắt đầu cho cuộc hành trình gieo hạt giống đức tin cho Đại Việt và cũng khởi đầu cho các cuộc bách hại tôn giáo tàn khốc khiến vài trăm ngàn người đầu rơi, máu đổ trước bàn tay sắt máu của các bạo chúa và phong trào cần vương xưa.

Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn chép lại: “Đạo Gia-tô, theo bút ký của tư nhân, tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, có người Tây dương tên I-nê-khu, lén đến truyền đạo Gia-tô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy”


Tính đến thời điểm này, đạo Công Giáo đã được truyền vào Việt Nam với con số rất chẳn 480 năm. Việt Nam là một trong số hiếm hoi các quốc gia có được các Thánh Tử Đạo, con số chính thống 117 vị được đức Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị phong hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Để có được 117 vị thánh này (và chân phước An-rê Phú Yên), người Công Giáo Việt Nam đã phải trả một cái giá rất đắt cho đức tin của mình trong các giai đoạn lịch sử tối tăm đau thương, khi tra lại vẫn thấy rùng rợn, hãi hùng vì sự tàn bạo khát máu của các hôn quân để phải rơi lệ cúi đầu khâm phục trước đức tin giữ đạo vàng đá kiên trinh của các đấng tiền nhân.

Vẫn biết văn hoá phong tục tín ngưỡng xưa của Đại Việt cho việc thuần phục vua chúa, chấp nhận đa thê và thờ cúng tổ tiên là lẽ thường nhưng các vị thừa sai khi đến rao giảng đức tin, bản thân họ là những người kiệt xuất và rộng lượng bác ái. Các tín hữu theo đạo là những người hiền lành, sống lương thiện có văn hoá, kỷ cương. Nhưng không hiểu sao các vua chúa của Đại Việt ngày xưa căm ghét họ đến tận xương tủy và bằng mọi giá phải ngăn cấm mà họ gọi là theo "tả đạo", ngăn cấm mãi không được họ phải tiêu diệt qua những lần ban bố sắc lệnh. Mỗi sắc lệnh ban ra là những lần lùng bắt người có đạo đem ra pháp trường để phanh thây, tùng xẻo, treo ngược rồi chém đầu khiến gây bao nhiêu cảnh tang thương và để lại vết sử đen không bao giờ xóa được.

Qua 53 sắc lệnh cấm đạo trong quãng thời gian bắt đầu từ năm 1615 của chúa Sãi, Nguyễn Phúc Nguyên tới các sắc lệnh cuối cùng của vua Tự Đức triều Nguyễn năm 1860. Thêm vào cuộc sát hại người Công Giáo vào năm 1885 của nhóm Văn Thân thừa nước đục thả câu vịn lý do "Bình Tây sát Tả" (dẹp giặc Tây, giết người theo Tả đạo) thì số người chết vì đạo quá nhiều. Ước tính có từ 130 ngàn đến 300 ngàn người bỏ mạng trong đó 117 vị được phong thánh và hàng vạn giáo dân khác bị "khắc trên má trái hai chữ Tả Ðạo và trên má phải tên tổng, huyện, nơi bị giam giữ, như thế không còn cách nào trốn thoát". Trong các đời vua chúa có lệnh cấm đạo khốc liệt và tàn bạo nhất vẫn là đời vua Minh Mạng và cháu nội ông ta, vua Tự Đức.

Lật lại lịch sử vua Gia Long, tức chúa Nguyễn Phúc Ánh khi còn đang đánh nhau giành giang sơn với quân Tây Sơn và bị vây hãm truy lùng đến tận cùng không lối thoát đã được Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) hết lòng giúp đỡ bằng cách nhờ hoàng gia Pháp viện trợ quân khí để đánh trả lại quân Tây Sơn. Giám mục Bá Đa Lộc lại là thầy dạy học cho Đông Cung thái tử Hoàng Phúc Cảnh, con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Ánh.

Đông Cung Cảnh là người hiền lành, có đầu óc và tư tưởng mở rộng và yêu thích văn minh, khoa học Tây Phương nhưng lịch sử lại trớ trêu vì Đông Cung Cảnh mất sớm năm 1801 bởi bệnh đậu mùa khi mới 21 tuổi, một năm trước khi cha Nguyễn Phúc Ánh lấy được giang sơn, lên làm vua Gia Long. Vì quá thương tiếc cho đứa con vắn số và cũng để nhớ ơn Giám mục Bá Đa Lộc đã giúp đỡ cho hai cha con ngày trước. Khi lên ngôi vua Gia Long đã cho người Công Giáo được tự do hành đạo tuy bản thân vua có thành kiến với đạo với hai lý do.

Thứ nhất vì đạo nghiêm cấm tục lệ đa thê mà theo lời của vua Gia Long: “Đạo Thiên Chúa rất hợp với đạo lý nhưng quá nghiêm khắc với tục đa thê. Đối với ta, không thể chỉ lấy một vợ, mặc dù ta thấy là trị cả nước còn dễ dàng và ít mệt mỏi hơn là giữ cho gia đình ta được yên ấm”

Lý do thứ hai là vì đạo Công Giáo hạn chế việc thờ cúng tổ tiên, đây cũng là nguyên nhân khiến vua Gia Long khi truyền ngôi báu đã không truyền cho cháu trưởng tôn (con của thái tử Đông Cung Cảnh đã mất) mà lại truyền cho con trai thứ tư, hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, tức vua Minh Mạng.

Số là khi Đông Cung Cảnh ở Pháp về có vào yết kiến vua cha, khi đến trước bàn thờ của các bậc tiên đế dòng họ Nguyễn Phúc, Đông Cung Cảnh không chịu thờ lạy bái phục bàn thờ tổ tiên khiến Gia Long rất căm giận, đứng cạnh Đông Cung Cảnh là Giám mục Bá Đa Lộc lúc này có khuyên Đông Cung nên tôn trọng tục lệ thờ kính ông bà và lễ bái, nhưng Đông Cung không làm theo.
Vua Gia Long tuy rất phẩn nộ nhưng không khiển trách Đông Cung. Ông chỉ giữ trong lòng và khi Đông Cung mất ông không truyền ngôi báu cho con của Đông Cung như đã nêu trên.

Khi tính con số các Thánh tử đạo đã đổ máu đào, trong 117 vị đó có 96 linh mục & giáo dân người Việt, 11 giám mục & linh mục người Tây Ban Nha và 10 giám mục & linh mục người Pháp. Trong 117 vị thì có đến 108 vị chết dưới tay của vua Minh Mạng và Tự Đức, vua trước được mệnh danh là "bạo chúa Neron của Đại Việt", vua sau để Đại Việt rơi vào tay Pháp qua Hiệp ước Nhâm Tuất 1862.
Vịn vào hiệp ước thua trận này nhóm Văn Thân nổi lên quấy phá lộng hành, làm lũng đoạn nền chính trị trong triều đang lúc nhiễu nhương. Một lần nữa, người Công Giáo bị đem ra làm vật tế thần, con số người bị hành hình, đầu rơi xuống đất nhiều như sung rụng chỉ trong vòng một năm, tính ra gần bằng tổng số người bị sát hại trong vòng 270 năm trước đó.

Nếu lịch sử công tâm và luật pháp hiện hành sẽ liệt những người này vào tội diệt chủng bởi tính man rợ không chút lương tâm, ngay đối với đồng bào cùng chung màu da và tiếng nói với mình.