teXuong

Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà
Trước nhà có miếu, có cây đa
Vườn ao đất cát chừng ba mẫu
Nứa lá tre pheo đủ một toà
Mới sáu bận sinh đà sáu cậu
Trong hai dinh ở, có hai bà
Trông ông mốc thếch như trăng gió
Ông được phong lưu tại nước da

Tác giả bài thơ trên là Trần Tế Xương thường gọi là Tú Xương, một nhà thơ lớn của nền thi ca Việt Nam cuối thế kỷ 19 nhưng lại thất bại nặng nề ở đường công
danh sự nghiệp. Thời sinh tiền các bài thơ phú của Trần Tế Xương không được phổ biến mấy, chỉ khoảng 50 năm sau khi ông mất mới được in ấn và đăng tải rộng rãi. Tú Xương là một hiện tượng lạ trong văn học sử Việt Nam vì tuy ông thi trượt 8 lần trong các khoa thi cử và không được bổ làm quan. Nhưng các tác phẩm thi ca của ông được người đời sau ưa chuộng và truyền tải hơn là các tác phẩm của những bậc danh nho khoa bảng từng đỗ đạt và thành công trong đường hoạn lộ như: Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh.

Thơ của Trần Tế Xương rất được hâm mộ bởi đám hậu sinh đến nỗi họ ghép chữ "Tú" trong bút hiệu của ông để đặt tên cho mình như: Tú Mỡ, Tú Kêu, Tú Sụn, Tú Banh..và đây là tên của hầu hết những nhà thơ trào phúng, châm biếm tựa như phong cách làm thơ của Tú Xương.

Tú Xương sinh năm Canh Ngọ đời Tự Đức thứ 23 (1869). Như đã nêu trên ông tuy rất giỏi văn chương nhưng lại long đong trên đường khoa mục, thi 8 lần đều rớt khoa cử nhân (tương đương với bằng đại học bây giờ). Mãi tới năm 25 tuổi mới đậu Tú tài (tương đương với chứng chỉ học xong lớp 12 thời bây giờ), nhưng với bằng Tú tài ông cũng chẳng làm gì được vì phải đợi 3 năm sau mới được thi Cử nhân và cũng không được ra làm quan vì triều đình chỉ nhận các tân khoa có bằng cử nhân.

Nản chí quá Tú Xương làm loạn: ở nhà ăn chơi trác táng chẳng làm việc tích sự gì, để mặc cho vợ quán xuyến tất cả công việc. Bà Tú vợ của ông vốn là một người đảm đang có tiếng vì ông cứ nhắc tên bà trong những bài thơ ông chế tác. Ông rất mực kính trọng và trông cậy vào tài cán của bà khi bà phải nai lưng nuôi dạy 5 đứa con nheo nhóc và quần quật buôn bán để kiếm tiền cho ông tiếp tục ăn chơi. Trong bài thơ "Thương vợ" ông đã rất thành khẩn và ngỏ lời tri ân sâu sắc tới ân nghĩa của bà đã dành cho ông:

"Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không"

Vào những năm cuối đời (Tú Xương mất khá sớm ở tuổi 37) công việc làm ăn buôn bán của bà Tú gặp bỉ vận, gia đình ông lâm vào cảnh túng quẩn sa sút. Gia đình gồm 7 miệng ăn cứ gặp phải bữa đói bữa no, lâu dần trở nên nghèo túng rách nát. Trong khoảng thời gia này đất nước đang có nạn ngoại xâm (Pháp), ông thường va chạm với những kẻ đê tiện bám gót thực dân lại thêm cảnh nghèo đói khiến Tú Xương đâm ra uất ức và làm những bài thơ châm biếm chế giễu bản thân lẫn thói đời.

Thơ ông rất tự nhiên giản dị nhưng lúc nào cũng có hàm ý cười cợt, châm biếm và chế giễu. Như đã có nhắc trong bài viết trước đây, Tú Xương rất được trọng thị và có ảnh hưởng rất lớn với các nhà thơ nhà văn miền Bắc thời tiền chiến như Tản Đà, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Tú Mỡ...Riêng "ông hoàng của thơ tình" Xuân Diệu rất ngưỡng mộ và đề cao bậc tiền bối của mình. Xuân Diệu xếp Tú Xương hàng thứ 5 trong số những đại thi hào của Việt Nam gồm có: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm và Trần Tế Xương.
Đắc Xuyên Gia Khang